Dọc đường quê hương

Chiến dịch Lê Hồng Phong: Bước trưởng thành trong đấu tranh của quân và dân Miền đông Nam bộ

Cập nhật 21/10/2011 15:22
Hưởng ứng lời kêu gọi của Trung ương Đảng trong chiến dịch Thu-Đông, xứ Ủy Nam Bộ, Bộ Tư Lệnh đã quyết định mở chiến dịch Lê Hồng Phong và chọn Bến Cát làm nơi mở màn chiến dịch, nhằm đẩy mạnh phong trào chiến đấu của quân và dân trên các chiến trường, cầm chân quân địch. Khi đó, Bến Cát là căn cứ cách mạng của tỉnh Thủ Biên, với địa hình thuận lợi cho cuộc chiến chống phá thế bao vây của giặc. Chiến dịch Lê Hồng Phong-Bến Cát, nay là huyện Dầu Tiếng, là chiến dịch lớn và duy nhất thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp ở Nam Bộ. Thành công của chiến dịch Lê Hồng Phong đã đã để lại nhiều kinh nghiệm quý báu cho các lực lượng vũ trang miền Đông Nam bộ, về khả năng phối hợp tác chiến trên một địa bàn rộng lớn trong thời gian dài, góp phần quan trọng cùng với các địa phương trong cả nước hoàn thành sứ mệnh giải phóng dân tộc, độc lập, thống nhất đất nước sau này.

CHIẾN DỊCH LÊ HỒNG PHONG: BƯỚC TRƯỞNG THÀNH TRONG

ĐẤU TRANH CỦA QUÂN VÀ DÂN MIỀN ĐÔNG NAM BỘ

61 năm trôi qua kể từ ngày chiến dịch Lê Hồng Phong diễn ra – Đại tá Nguyễn Mộng Giao – nguyên trợ lý tác chiến tiểu đoàn 300 – đơn vị tăng cường cho chiến dịch vẫn nhớ như in những trận đánh oanh liệt, những chiến công, hy sinh anh dũng của đồng đội đã sát cánh cùng ông tham gia chiến dịch Lê Hồng Phong…

Năm 1950, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Trung ương Đảng mở chiến dịch biên giới đặt tên là chiến dịch Lê Hồng Phong. Chiến dịch mở ra nhằm cầm chân địch và phá thế kìm kẹp của địch chia cắt chiến trường, mở rộng căn cứ cách mạng của quân ta. Trong vòng 1 tháng chuẩn bị, chiến dịch huy động đội ngũ lực lượng dân quân hùng mạnh, với 3 tiểu đoàn chủ lực khu 7 gồm: tiểu đoàn 302, 303, 304, đại đội pháo binh Nam Bộ, đại đội của tiểu đoàn 300 và 5 đại đội địa phương của huyện Bến Cát, Hớn Quảng, Châu Thành, Trảng Bàng, Hóc Môn và hơn 30.000 dân công hoả tuyến. Ngày 7/10/1950 chiến dịch được mở màn với chiến công đầu tiên là đánh sập lô cốt số 2 của địch tại đồn Bến Súc. Liên tiếp những ngày sau đó, các đại đội tiếp tục đánh sập nhiều lô cốt làm địch hoang mang.

Trong suốt thời gian chiến dịch diễn ra, các tiểu đoàn đã phối hợp chặt chẽ với bộ đội địa phương, liên tục tổ chức đánh cắt các tuyến giao thông, tiến công tiêu diệt các đồn bót của địch trong các sở cao su dọc quốc lộ 13. Trong vòng 39 ngày đêm chiến đấu, từ ngày 7/10/1950 đến 15/11/1950, quân ta đã đánh 249 trận, tiêu diệt 500 tên địch, bắt sống 120 tên, diệt 84 xe quân sự, 5 đầu máy xe lửa. Chiến dịch đã tiêu diệt một bộ phận lớn sinh lực địch, đánh tan hệ thống đồn bót tháp canh của địch trên một phạm vi rộng lớn: quốc lộ 13, liên tỉnh lộ 14, đường 7 và vùng cao su Dầu Tiếng, làm suy yếu lực lượng địch và phá thế bao vây của chúng xung quanh chiến khu Long Nguyên và dọc hành lang Chiến khu Đ lên Chiến khu Dương minh Châu; cao su Dầu Tiếng, bảo vệ tuyến đường vận chuyển, liên lạc của ta từ Đồng Bằng Sông Cửu Long lên chiến khu miền Đông Nam Bộ. Với sức mạnh của nhân dân Nam Bộ đã phá tan chiến lược tốc chiến, tốc thắng của thực dân Pháp.
Tổng kết chiến dịch, đồng chí Lê Quẩn, Bí thư Xứ ủy đã đánh giá: Chiến dịch Lê Hồng Phong - Bến Cát đã đánh dấu một bước trưởng thành quan trọng của lực lượng vũ trang Khu 7, đưa phong trào kháng chiến của quân và dân miền Đông Nam bộ hòa nhịp vào cuộc kháng chiến trên chiến trường cả nước…
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, chiến dịch Lê Hồng Phong đã tiếp lửa cho phong trào cách mạng của quân và dân Thủ Dầu Một - Bình Dương không ngừng phát triển. Khối đoàn kết toàn dân được củng cố tạo thành sức mạnh hùng hậu của cuộc kháng chiến. Lực lượng bộ đội địa phương và du kích xã từng bước trưởng thành và hoạt động chống càn quét lấn chiếm, công đồn, chặn viện, tiêu diệt và tiêu hao sinh lực địch bằng nhiều cách đánh sáng tạo và có hiệu quả. Thế trận chiến tranh nhân dân, kháng chiến toàn dân, toàn diện ngày càng được hoàn thiện. Khi ta bắt đầu chuyển sang thế chiến lược tiến công, hàng loạt đồn bót, tháp canh của địch bị tiêu diệt. Âm mưu bình định lấn chiếm của địch bị thất bại. Vùng căn cứ được mở rộng ra các hướng, nối liền với các căn cứ cũ, tạo thành địa bàn để các lực lượng vũ trang đứng chân hoạt động, góp phần đưa cuộc kháng chiến trong tỉnh chuyển sang bước phát triển mới.
Để ghi dấu những đóng góp to lớn của quân và dân trong chiến dịch Lê Hồng Phong, vào năm 2006 tỉnh Bình Dương đã xây dựng bia kỷ niệm chiến dịch Lê Hồng Phong tại xã Thanh Tuyền huyện Dầu Tiếng. Công trình được xây dựng trên diện tích 798m2 với kinh phí xây dựng trên 2,2 tỷ đồng. Công trình gồm bệ bia tưởng niệm, phù điêu thể hiện phần tiêu biểu của chiến dịch. Đây là công trình lịch sử có ý nghĩa quan trọng, vừa nêu cao tinh thần chiến đấu hào hùng của quân và dân ta. Đồng thời, giáo dục thế hệ con cháu truyền thống lịch sử đấu tranh hào hùng, anh dũng của dân tộc Việt Nam.
 
Đã 61 năm kể từ ngày chiến dịch Lê Hồng Phong diễn ra, thế nhưng chiến dịch vẫn còn nguyên giá trị lịch sử của nó, đó là chiến công lịch sử được đúc kết bằng xương máu, công sức của hàng trăm chiến sĩ và đồng bào. Những tấm gương anh hùng, kiên trung, bất khuất đã trở thành bất tử, những chiến thắng oanh liệt đã đi vào huyền thoại. Truyền thống cách mạng thiêng liêng ấy đã trở thành nhân chứng lịch sử ngàn đời của dân tộc về thành quả cách mạng của thế hệ cha ông…
 

Ngay sau khi cách mạng thành công - 36 năm kể từ ngày đất nước hoàn toàn độc lập, thống nhất, chính quyền cách mạng và người người dân xã Thanh Tuyền – huyện Dầu Tiếng – nơi trung tâm diễn ra chiến dịch, cùng các địa phương lân cận thuộc địa bàn huyện Bến Cát ngày này đã cùng kề vai sát cánh nỗ lực vượt qua khó khăn, khắc phục hậu quả chiến tranh, ra sức làm ăn phát triển kinh tế, hưởng thụ cuộc sống tự do và yên bình trên quê hương mình. Ngày nay, trong công cuộc đổi mới xây dựng và bảo vệ tổ quốc XHCN. Kế thừa và phát huy truyền thống cách mạng của cha ông đi trước, chính quyền và nhân dân địa phương đang ra sức xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp.

Ngày nay, bộ mặt các địa phương vùng chiến dịch Lê Hồng Phong xưa kia đã hoàn toàn khởi sắc, cùng với sự phát triển chung của tỉnh, tình hình kinh tế xã hội ở đây không ngừng được được phát triển, đời sống người dân các địa phương trong vùng đã không ngừng được nâng lên về mọi mặt. Có thể thấy dưới sự quan tâm, chăm lo của Đảng bộ, chính quyền địa phương, mảnh đất đầy bom cày, đạn xới ngày nào, giờ đây đã hoàn toàn đổi thay, đời sống người dân nơi đây không ngừng được nâng lên, ngày một khá giả, sung túc.

Bên cạnh đó, với lĩnh vục kinh tế phát triển, đã tạo điều kiện cho các địa phương vùng chiến dịch thực hiện thuận lợi các phong trào hành động cách mạng ở cơ sở. Đến nay, các địa phương đều đạt chuẩn quốc gia về y tế, tỷ lệ trẻ trong độ tuổi đến trường, số hộ sử dụng nước sạch, sử dụng điện đạt gần 100%. Phong trào làm đường giao thông nông thôn, từng bước được xã hội hoá theo phương châm nhà nước và nhân dân cùng làm đã thực hiện nhiều công trình với tổng vốn huy động hàng tỉ đồng. Hệ thống giao thông liên lạc đã được trải khắp từ thôn ấp, nối liền với các trục lộ chính. Nhờ vậy, hoạt động giao thương - vận chuyển hàng hóa, hàng nông sản, đi lại của nhân dân ngày càng thuận lợi hơn. Song song đó, công tác đào tạo nghề – giới thiệu việc làm cho lao động nông thôn cũng được chính quyền các địa phương không ngừng được đẩy mạnh. Cuộc sống nâng cao, người dân trong vùng cùng nhau chăm lo đối tượng nghèo, chính sách với nhiều hoạt động có ý nghĩa thiết thực, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu giảm nghèo ở địa phương.

Qua 61 năm thắng lợi của chiến dịch Lê Hồng Phong, các địa phương trong vùng chiến dịch xưa kia hiện đang chuyển mình đi lên từng ngày, với tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh, hộ giàu không ngừng tăng nhanh, cuộc sống của người dân không ngừng được cải thiện. Từ một vùng đất bị bom cày đạn xới trong chiến tranh, với sự đồng lòng, cùng sức của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân của các địa phương đã làm cho vùng đất giàu truyền thống cách mạng hồi sinh, đem lại đời sống ấm no, hạnh phúc, cho nhân dân. Và đây cũng là minh chứng điển hình về bản lĩnh, ý chính vượt khó vươn lên, vững bước xây dựng và bảo vệ thành quả đấu tranh cách mạng của thế hệ cha ông, của thế hệ trẻ địa phương các huyện Dầu Tiếng – Bến Cát nói riêng, thế hệ trẻ tỉnh Bình Dương và cả nước ngày nay nói chung./.

Thuận Thảo – Hoàng Hải

 

| Share

Phản hồi (0)

VIẾTPHẢN HỒI

(*)

(*)

(*)